giảm cân

Frutin Giảm Cân – BihāRī Aura Vr̥Nda

Thuốc chống nấm: Hiện nay, rất nhiều loại thuốcchống nấm bôi ngoài da có sẵn trên thị trường nhưng hiệu quả và cách sử dụngcủa chúng không hoàn toàn giống nhau. Nystatin, miconazole đặc biệt hiệu quảtrong điều trị các trường hợp nhiễm nấm men (như Candida) nhưng không tác dụngđối với nấm sợi. Clotrimazole và ketoconazole có phổ tác dụng khá rộng so với 2loại thuốc trên nhưng kém hơn so với các chế phẩm mới như terbinafine, ciclopiroxolamine và butenafine.

Các thuốc chống nấm bôi tại chỗ thường được sử dụngtrong điều trị các trường hợp nhiễm nấm nông như lang ben, hắc lào, hăm kẽ, nấmmóng, nấm da đầu… Cần lưu ý trong các trường hợp nấm da đầu và nấm móng,thuốc chống nấm bôi tại chỗ thường không đủ tác dụng mà phải phối hợp thêmđường uống. Hiệu quả của các thuốc chống nấm bôi tại chỗ thường đạt được saudùng thuốc ít nhất 2 tuần, trừ trường hợp lang ben và hắc lào có thể thu đượchiệu quả sau vài ngày. Nấm kẽ và nấm bàn chân ở các vận động viên điền kinhthường gây ra do độ ẩm tại chỗ quá cao, do đó, việc điều trị phải phối hợp giữathuốc chống nấm với các biện pháp chống ẩm tại chỗ. Nếu có trợt loét do bộinhiễm vi khuẩn cần phối hợp thêm với kháng sinh. Bên cạnh các chỉ định trên,thuốc chống nấm bôi tại chỗ còn được chỉ định trong điều trị viêm da dầu. Mặcdù cơ chế của bệnh còn chưa được biết rõ nhưng việc dùng các thuốc chống nấmbôi như ketoconazole và ciclopirox olamine giúp giảm rõ rệt tình trạng viêm vàđóng vảy.

*

Kháng sinh: Mặc dù có tới hàng trăm chế phẩm khángsinh khác nhau đã được bào chế và đưa vào sử dụng nhưng rất ít trong này có thểdùng được ngoài da. Thuốc mỡ erythromycin và clindamycin thường được sử dụngtrong điều trị trứng cá mủ và viêm nang lông, trong khi đó, các loại mỡmupirocin, polymyxin, bacitracin và neomycin thường được dùng trong điều trịcác nhiễm trùng ngoài da như chốc… Thuốc mỡ kháng sinh cũng có tác dụng tốttrong dự phòng nhiễm trùng các vết thương ngoài da. Viêm da tiếp xúc là tácdụng phụ thường gặp với các loại mỡ chứa polymyxin, bacitracin và neomycin, dođó nên tránh sử dụng các loại thuốc này nếu có thuốc thay thế thích hợp. Một sốtrường hợp dị ứng nặng như hội chứng Stevens – Johnson và Lyell do các loạikháng sinh bôi tại chỗ đã được ghi nhận.

Đang xem: Frutin giảm cân

Corticoid: Các loại corticoid bôi tại chỗ bắt đầu đượcsử dụng trong thực tế từ năm 1960, chủ yếu trong điều trị các bệnh lý da doviêm như chàm cơ địa, viêm da dầu, viêm da tiếp xúc, tổ đỉa… Một số bệnh lýngoài da khác như u lympho thể da, lupus ban đỏ, vảy nến, liken phẳng… cũngcó đáp ứng tốt với các thuốc này. Tác dụng phụ nguy hiểm nhất của corticoid bôitại chỗ là gây teo da. Biến chứng này thường xảy ra sớm với các loại corticoidtác dụng mạnh như clobetasol propionate, fluocinolone acetonide… nhưng cũngcó thể gặp với các loại tác dụng yếu nếu sử dụng kéo dài và liên tục. Mặt, nếpgấp và các vùng da mỏng thường bị teo nhanh nhất trong khi lòng bàn tay, bànchân thường teo da chậm nhất. Trẻ em có nguy cơ teo da cao nhất, dùng phối hợpvới corticoid toàn thân hoặc tiếp xúc nhiều với ánh nắng sau thoa thuốc cũnglàm tăng nguy cơ teo da. Biểu hiện của teo da bao gồm các vết bầm tím, da trởnên bóng và có các khía. Các tác dụng khác thường gặp do corticoid bôi tại chỗbao gồm rối loạn sắc tố da, rậm lông, nổi mụn trứng cá, làm chậm liền vết thương…Corticoid dùng kéo dài tại các vùng da quanh mắt còn có thể gây ra hoặc làmnặng bệnh đục thủy tinh thể và thiên đầu thống. Ngoài ra, các loại tác dụngmạnh nếu dùng kéo dài hoặc trên diện rộng cũng có thể gây ức chế tuyến thượngthận. Trong một số ít trường hợp, corticoid bôi tại chỗ còn có thể gây ra viêmda tiếp xúc, mặc dù các thuốc này có tác dụng chống dị ứng rất mạnh.

Xem thêm: Đẹp Trai Nhờ Giảm Cân – 6 Chàng Trai Lột Xác Thành Mỹ Nam Nhờ Giảm Cân

Tác dụng phụ của corticoid bôi phụ thuộc chủ yếuvào cường độ tác dụng và thời gian sử dụng thuốc. Trong khi đó, tác dụng điềutrị của các thuốc này tỷ lệ thuận với nguy cơ gây tác dụng phụ của thuốc. Cácbiệt dược khác nhau của cùng một hoạt chất với cùng một hàm lượng cũng có thểcó hiệu quả điều trị và nguy cơ gây tác dụng phụ không giống nhau. Ngoài ra,việc tăng hàm lượng của một hoạt chất corticoid trong thuốc bôi không làm tăngđáng kể hiệu quả điều trị của thuốc, ví dụ, tác dụng chống viêm của mỡtriamcinolone 0,1% không lớn hơn đáng kể so với mỡ triamcinolone 0,025%.

Xem thêm: Nên Và Không Nên Ăn Gì Khi Bị Đau Bụng Nên Ăn Gì, Đau Bụng Dưới Nên Ăn Gì

Một số điều cần lưu ý trong việc lựa chọncorticoid bôi: Do corticoid bôi tại chỗ có nhiều nguy cơ gây tác dụng phụ nêncần chẩn đoán xác định chính xác bệnh trước khi đưa ra quyết định sử dụng cácthuốc này. Việc lựa chọn corticoid bôi cần cân đối giữa hiệu quả điều trị vớinguy cơ tác dụng phụ. Điều trị các bệnh như liken phẳng, lupus ban đỏ ngoài dathường đòi hỏi các thuốc corticoid bôi tác dụng mạnh, do các bệnh lý này thườngcó tổn thương viêm ở các lớp sâu của da. Một số bệnh lý có tổn thương viêm da ởquá sâu như sarcoidosis thường không đáp ứng với corticoid bôi tại chỗ do tácdụng phụ của thuốc thường đến trước khi tác dụng chính xuất hiện. Các bệnh lýcó tổn thương da ở nông trên bề mặt như vảy nến, chàm cơ địa thường đáp ứng tốtvới các loại corticoid bôi tác dụng trung bình. Trong các trường hợp viêm damạn tính ở bàn tay (như trong bệnh vảy nến, chàm cơ địa), nên lựa chọn các loạicorticoid bôi tác dụng mạnh và dùng trong một thời gian ngắn để hạn chế nguy cơteo da lòng bàn tay. Nói chung, ở trẻ em nên lựa chọn các loại thuốc bôi có tácdụng yếu như hydrocortisone, clobetasone butyrate…

Các thuốc bôi phối hợp: Hiện nay trên thị trườngcó khá nhiều loại thuốc bôi phối hợp với thành phần chủ yếu bao gồm một loạicorticoid, một loại kháng sinh và một loại thuốc chống nấm. Nói chung, nên hạnchế tối đa việc sử dụng các thuốc này trong thực tế, vì trong nhiều trường hợp,các thành phần trong thuốc có thể cản trở hiệu quả của nhau. Ví dụ, trongtrường hợp nấm da, các chế phẩm có chứa corticoid sẽ làm bệnh nặng thêm và giảmhiệu quả của thuốc chống nấm.

BS. NguyễnHữu TrườngSuckhoedoisong.vn

Tin mới hơn

Tin cũ hơn

Giới thiệu về bệnh việnBan lãnh đạo bệnh việnBan Giám đốcPhòng chức năngTrung tâm trực thuộcCác ViệnCác Khoa Lâm sàngKhoa Cận lâm sàngCác khoa khácLịch sử hình thànhĐo lường chất lượng bệnh việnVăn bản HTQLCL ISOTin tức và Sự kiệnVăn bản pháp quyThông tin nội bộ bệnh việnPhòng Điều dưỡngChuyên mônĐào tạoNghiên cứu khoa họcQuản lý điều dưỡngHợp tác Quốc tếChăm sóc giảm nhẹChi hội điều dưỡngThư việnTài liệu nội bộ

Xem thêm bài viết thuộc chuyên mục: giảm cân

Related Articles

Trả lời

Back to top button